Ba người thầy
NGƯỜI THẦY THỨ NHẤT- Thầy dạy môn chán nhất quả đất ở trường phổ thông: môn chính trị, kiêm luôn hiệu phó phụ trách khen thưởng kỷ luật. Mắt thầy lừ lừ, toàn gọi học sinh là “cô”, “cậu”, hơn nữa, thầy hay hỏi khó (ví dụ như gọi ai lên bảng thầy lại hỏi “cậu/cô có biết tại sao tôi lại gọi không”, hay “tại sao xoáy vỏ ốc lại theo chiều như vậy”, tóm lại rất nhiều câu hỏi “tại sao”) nên học sinh rất sợ. Cả tôi cũng thế. Một hôm, đang giảng bài trên lớp, thầy trích dẫn sai tên sách ( thầy nói tên sách là “Thế đấy, kỳ lạ cuộc đời này”), tôi buột mồm sửa ( “Kỳ lạ thế đấy, cuộc đời này”). Thầy nhìn tôi dom dom rồi hỏi “Cậu có đọc cuốn đó không”, mà hồi nhỏ, tôi vốn là đứa đọc nhiều, lại đọc thượng vàng hạ cám, nên trả lời “em có đọc”. Thầy để ý đến tôi từ khi đó
Nhà trường thành lập các đội tuyển đi thi học sinh giỏi thành phố, thầy đề nghị đưa tôi vào đội tuyển văn. Khi đó tôi mới biết thầy vốn là giáo viên dạy văn. Tôi đoạt điểm cao nhất trong cuộc thi thành phố, được đưa vào đội tuyển của thành phố đi thi quốc gia. Thầy lấy xe đạp nói với tôi “cậu đi với tôi”. Thầy đạp xe lụi cụi trong buổi trưa nóng bức, đến một biệt thự cổ. Hai thầy trò dựng xe ở dưới, đi qua một hàng phở, rồi gõ cửa vào một căn phòng sang trọng. Thầy khẩn khoản nói với người tiếp chuyện chúng tôi “tôi biết tôi không có tài để dạy cháu. Trăm sự nhờ anh”. Người tiếp chuyện thầy sốt ruột phẩy tay “Tôi biết rồi, anh về đi”. Thầy tôi rón rén ra về, để tôi lại trong căn phòng với người đó, người rồi sẽ thay đổi số phận của tôi. Tôi chỉ cảm thấy hụt hẫng, nhìn bóng dáng thầy lại lụi cụi đạp xe về giữa trưa nóng bức.
Bao nhiêu năm trôi qua, thầy trở thành nhà văn, viết văn…Có lần thầy bảo “ Sơn bây giờ đã là nhà phê bình, mình bây giờ là đồng nghiệp rồi, thôi đừng gọi tớ là thầy nữa”. Thầy không hiểu là, đối với tôi, cho đến tận cuối đời, không bao giờ tôi quên được hình ảnh thầy đạp xe lóc cóc mang tôi đi gửi gắm cho người có thể dạy tôi tốt hơn thầy, và như thế, mãi mãi tôi sẽ gọi thầy là thầy, thầy Bắc Sơn của tôi
NGƯỜI THẦY THỨ HAI- Thầy vốn rất nổi tiếng (sau này tôi mới biết), chứ còn hôm đầu tiên gặp, tôi chỉ thấy vẻ cao ngạo của thầy. thấy thầy “tống” thầy giáo của tôi về ngay một cách rất bề trên, tôi vừa bất mãn vừa hơi sợ thầy.
Được đưa đến cho thầy dạy, nhưng thầy chẳng dạy gì cả. Thày quẳng cho tôi một đống sách, nói đọc đi. Nhưng mà nói đến sách của thầy…thật làm cho tôi chảy hết cả rớt rãi. Những tập thơ Xuân Diệu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…được in bằng giấy dó, những cuốn sách tôi chưa bao giờ biết nó tồn tại…thế là mắt mũi tôi mờ hết đi, bụng bảo dạ có đuổi mình về mình cũng không về.
Thế là bắt đầu những ngày tháng sung sướng nhất của tôi. Tôi chẳng phải làm gì ngoài việc đọc sách. Giữa buổi, cô lại mang cho tôi cốc nước mơ rồi ra gõ máy chữ lạch cạch ngoài sân. Lúc đó tôi không biết cô đang gõ bản thảo Tướng về hưu cho nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhà thầy là salon văn học nổi tiếng khi đó, các nhà văn, nhà thơ, tác giả kịch bản qua lại như mắc cửi. Tôi ngồi lánh vào một góc trong xó nhà, đọc trời đọc đất đến chiều muộn mới ra về. Thỉnh thoảng trong nhà có việc, tôi được dùng cái ghế mây của cô ngồi đọc sách ngoài sân, nghe tiếng thầy bàn luận rổn ràng trong phòng. Có hôm, con bạn thân cùng đội tuyển tới xin học cùng để còn buôn chuyện với tôi, hai đứa thì thầm rúc rích ngoài sân ( nhà có điều kiện nên nó được xem phim Bạch tuộc trước mình, nó đang phùng mang trợn mắt kể “thế là nó bắt mẹ nó cóc con”), thầy ở trong cứ chặt lưỡi ầm ầm vì sốt ruột, được vài bữa thầy đuổi nó luôn vì làm ảnh hưởng đến không khí học tập của tôi. Từ lúc đó mới lơ mơ nhận ra thầy chiều tôi thế nào.
Mà thầy chiều tôi thật. Sách gì của thầy cũng lấy đọc được, nhà thầy như nhà tôi, bài viết nào của tôi thầy cũng mang đi khoe khắp nơi “cái cậu này viết rất lạ”. Thế mà trước mặt tôi thì thầy rất lạnh lùng, chỉ đưa thêm nhiều sách và chấm bài cho tôi rất cẩn thận.
Trước khi thi, thầy chỉ dặn tôi “thi có trường qui, nên phải cẩn thận không phải muốn viết gì thì viết”. Chính vì thế, sau khi thi xong tôi thấy bài viết chán quá, toàn lặp lại những cái mình đã viết. Đến nhà thầy hỏi điểm, thấy thầy đang cười nói rổn rảng với một bác nào đó (sau này mới biết là thầy Phan Kế Hoành, chủ tịch hội đồng giám khảo). Hỏi điểm, thầy chỉ nói “cứ ngồi đây đã”. Rồi thầy quay sang bảo thầy Hoành “nó đây nó đây”…Hai người rót cho tôi một chén rượu Vân, rồi một chén nữa, rồi một chén nữa…cuối cùng say quá, cô phải lấy xích lô chở tôi về nhà. Hai thầy vẫn còn ngồi đó uống rượu đến đêm để sung sướng vì bài viết của tôi, cái giải của tôi
Rồi tôi khôn lớn, đi học, rồi trở về, rồi thầy bất ngờ bị tai biến mạch máu…Từ một người đẹp trai, hào hoa phong nhã, thầy bị liệt nửa người…Từ đó thầy không cho đến gặp trực tiếp nữa. Thỉnh thoảng thầy lại gọi điện cho tôi, tôi tới nhà, đứng dưới cổng, cô giúp việc sẽ đưa cho tôi những bài viết thầy thấy tôi cần phải đọc. “Thầy không muốn mọi người thấy mình không khỏe”- cô buồn rầu nói
Khi thầy mất, tôi không khóc vì phải cùng mọi người lo việc tang, chạy ngược chạy xuôi đi xem đô tùy làm phần mộ của thầy thế nào. Chỉ đến khi đứng trước linh cữu của thầy tôi mới khóc- tôi lại như cậu học trò nhỏ ngày xưa, khép nép trước ngưỡng cửa nhà thầy, khép nép trước thế giới văn chương mà thầy đã mở ra cho tôi, khép nép trước tình yêu mà thầy và cô đã dành cho tôi suốt những năm tháng qua, thầy giáo Văn Tâm của tôi
NGƯỜI THẦY THỨ BA-Khi gặp cô, chúng tôi hơi bị choáng. Trông cô giống hệt một nữ danh ca người Pháp quí phái và rất “hàng hiệu”. Tôi hơi ngạc nhiên khi cô hỏi ngày sinh và số phòng ký túc xá. “Để khi nào đến sinh nhật tôi sẽ tặng các em một món quà nhỏ”. Nhưng chỉ ngay ngày hôm sau tôi đã biết mình bị lừa. Quyết định cúp cua lớp của cô, ngày hôm sau tôi đang còn say sưa giấc nồng thì có tiếng chuông. “Cô giáo mày kìa”- thằng bạn cùng phòng gào lên rồi chạy vào trốn trong nhà tắm (nó cũng cúp cua lớp khác). Tôi ló cổ ra rồi tiu ngỉu bị cô xách tai điệu lên lớp.
Đó là lần đầu tiên và cũng lần duy nhất tôi cúp cua giờ học của cô, vì sau đó ai cũng trông chờ giờ học của cô. Lần lên lớp nào, cô cũng lễ mễ bưng theo cái ấm samova to đùng, và sau đó cô trò hỉ hả tiệc tùng: trà nóng, những loại bánh ngọt chúng tôi chưa bao giờ được ăn, bánh mỳ và xúc xích hảo hạng…Đối với đám sinh viên nghèo thì quả là đại tiệc. Ăn uống phè phỡn rồi cô mới bắt đầu vào lớp. Mặc dù môn học của cô là tiếng Nga và phong cách học, nhưng cô cũng chẳng dạy mấy. Chủ yếu là cô bắt đi xem kịch, xem phim, đi các bảo tàng…Cô cứ như một mẹ gà dẫn theo một đám gà con ngơ ngác lang thang khắp nơi, tất cả đều bằng tiền túi của cô. Đi xem Hồ Thiên Nga, bao giờ cô cũng ngồi ở ghế ngoài cùng để canh học trò không cho chuồn sớm. Cô dạy chúng tôi cách mở chai sâm-panh, cách ngồi trong nhà hát, cách bày bàn ăn, cách xử dụng dao nĩa…Cô hoàn toàn trở thành một người mẹ đúng nghĩa, lo cho chúng tôi từ bó hoa đi tặng bạn gái đến bệnh viện và bác sĩ tốt khi bị ốm.
Cô cũng đã lớn tuổi, chúng tôi cũng không còn trẻ trung gì nữa. Nhưng lúc nào nhớ lại, tôi cũng nhớ về hình ảnh ngơ ngác của những con gà con chúng tôi, với một bà mẹ gà hùng dũng dẫn đầu, đi trên những con đường ngập sâu trong tuyết, những con đường trải đầy lá vàng, những con đường ẩm ướt và đầy mùi hoa tử đinh hương để đến với âm nhạc, hội họa và văn hóa..Sẽ mãi biết ơn cô, cô giáo Tachia Mikhailovna của em