Tiếp thị cho một giải Nobel văn chương Việt Nam
Con rắn ghen tỵ quả đã mổ trúng sống lưng của chúng ta khi nghe tin giải Nobel văn chương năm 2000 được trao cho Cao Hành Kiện, mặc dù không ai trong chúng ta biết ông ta là ai. Thì có sao, ngay ở tổ quốc của mình, các tác phẩm của Cao-một phần do bị cấm- cũng hầu như không được biết tới. Cả ở châu Âu và Mỹ, nơi Cao Hành Kiện được cho là có độc giả, sách của ông ta cũng chỉ được biết tới trong một nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu quan tâm đến văn học Trung Quốc đương đại. Trừ Torbjorn Loden có viết một bài điểm sách nhỏ, chỉ có dịch giả của Cao, Mabel Lee, là người nhiệt tình nhất trong việc giới thiệu Cao và Linh sơn với độc giả nói tiếng Anh. Gregory Lee, giáo sư Trung văn thuộc trường Jean Moulin-Lyon III, cho biết, mặc dù Linh sơn được Noel Dutrait dịch sang tiếng Pháp từ 1995 (La montagne de l’âme), nhưng Cao Hành Kiện vẫn được biết rất ít tại Pháp, ngoại trừ dưới tư cách một hoạ sĩ vẽ tranh thuỷ mặc tài hoa.
Như vậy, cứ cho việc ngay buổi sáng sau hôm Uỷ ban giải thưởng công bố, báo Lao động đưa tin “một nhà văn Pháp gốc Trung hoa đoạt giải thưởng Nobel văn chương năm nay” chỉ là một sai lầm kỹ thuật của người làm tin “nóng”- mặc dù tôi không tin trình độ của người nhận tin này lại yếu đến nỗi không đọc được trong thông cáo báo chí những dòng chữ đơn giản như “mở ra những con đường mới cho văn chương và kịch nghệ Trung hoa”-thì sai lầm đó cũng phản ánh tình trạng bứt rứt của các giới văn chương Việt nam trước việc một nhà văn Trung Quốc “cùng thời” nhận được giải thưởng uy tín bậc nhất này. Sau nỗi phẫn nộ hộ “các nhà văn Trung Quốc anh em”, bằng việc tuyên bố giải thưởng Nobel văn chương đã bị “chính trị hoá”, và là “một nỗi xúc phạm đối với giải thưởng cao quí này”, báo giới Việt nam có vẻ đã dịu xuống sau khi Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Tiền phong chủ nhật, An ninh thế giới đăng một số bài giới thiệu, dè dặt hơn trong việc kết tội Cao và các tác phẩm của ông.
Mặc dù có rất nhiều người sẽ còn tranh cãi xem nên trao giải thưởng cho Cao Hành Kiện hay Bắc Đảo hoặc Mạc Ngôn, thái độ hằn học của các nhà văn Trung Quốc với giải Nobel năm 2000 chẳng qua chỉ là sự đố kỵ. Giá giải thưởng này được trao cho một ông già gần đất xa trời như Ba Kim, hẳn cả nước Trung Hoa đã lên một cơn hưng phấn có tổ chức để đón nhận vinh quang. Nhưng trao tấm phiếu đi vào cõi bất tử[1] cho một nhà văn cách tân, người hơn mười năm trước “cũng như chúng mình”, lại đã rời bỏ quê hương bản quán, thì quả là không thể chịu nổi. Nỗi ghen tức ngấm ngầm trước việc gã hàng xóm của mình bỗng chốc trúng số độc đắc sẽ không thấm vào đâu nếu đem so sánh với sự lồng lộn của các nhà văn Trung Quốc mấy tuần vừa qua.
Kirk Denton, chủ biên của tờ Văn học và Văn hoá Trung quốc hiện đại (MCLC- Modern Chinese Literature and Culture) thuộc trường đại học Ohio cho rằng, nguyên nhân của việc trao giải Nobel cho Cao Hành Kiện là do 1) các vở kịch của Cao đã được dịch ra nhiều thứ tiếng của châu Âu như tiếng Đức, Pháp, Y và tiếng Anh. Kịch của ông được công diễn thường xuyên ở các nhà hát danh tiếng ở châu Âu; 2) tất nhiên, có công lớn của Goeran Malmqvist, dịch giả văn học hiện đại Trung hoa, thành viên của Viện Hàn Lâm Thuỵ điển, người đã rất hăng hái trong việc dịch và giới thiệu các tác phẩm của Cao cho công chúng Thuỵ điển, ông đã dịch phần lớn các vở kịch của Cao, còn bản dịch Linh sơn của ông thậm chí đã ra trước cả bản chính xuất bản ở Đài Loan[2]; 3) Cao Hành Kiện, dù đúng hay sai, đã được dán mác dissident, và điều này chưa bao giờ làm hại những ứng viên của giải Nobel; 4) văn chương của Cao Hành Kiện, đặc biệt là Linh sơn, rất hợp “mốt” với các trào lưu hiện đại và hậu hiện đại của phương Tây, do đó, dễ dàng tìm thấy tiếng nói chung với độc giả phương Tây.
Cách đặt vấn đề của Kirk Denton khiến nhiều người không tán thành. Thứ nhất, ông ta bỏ qua một vấn đề quan trọng bậc nhất: Cao Hành Kiện là một nhà văn Trung quốc tài hoa, và Linh sơn, không nghi ngờ gì, là một tác phẩm lớn. Thứ hai, rõ ràng cái mác dissident mà người ta dán lên người Cao Hành Kiện là không đúng. Chính bản thân Cao đã rất nhiều lần tuyên bố ông chỉ quan tâm đến nghệ thuật mà không quan tâm đến chính trị. Vở kịch Taowang của ông, viết về sự kiện Thiên An Môn, đã gây ra sự công phẫn của cả hai phía, nhất là khi một nhân vật của vở kịch, Người qua đường, tuyên bố thẳng thắn “tôi đã ngán chính trị đến tận cổ…dân tộc nào? dân tộc của ai? nó có lo cho anh và tôi không? tại sao tôi lại phải lo cho nó? tôi chỉ lo cho tôi”[3]. Nhóm tài trợ cho vở kịch của ông tại Mỹ đã rút lại tiền vì không thoả mãn với vở kịch, không nhận ra hình ảnh những sinh viên anh hùng giơ ngực chắn xe tăng Bát Nhất. Dịch giả của Cao ra tiếng Anh, Mabel Lee, khi viết bài giới thiệu quan điểm của Cao về văn học, đã dùng đầu đề “Không chính trị- Cao Hành Kiện về sáng tác văn học”[4]. Hãy đọc “Tiếng nói của cá nhân”[5] của ông mà xem, Cao chính là người đòi hỏi các nhà văn Trung Quốc phải thoát khỏi cái “Chinese complex”-tư tưởng luôn coi mình là người phát ngôn của nhân dân, đại diện cho ý thức dân tộc và đấu tranh vì chủ nghĩa yêu nước, tức là hi sinh con người nhà văn cho con người-công dân, con người-chính trị. Chỉ khi nào các nhà văn Trung Quốc thoát ra khỏi cái ách đó, sống trong một “thời đại không chủ nghĩa” (meiyou zhuyi de shidai…) sáng tác của họ mới có thể thăng hoa. Tóm lại, Uỷ ban giải Nobel không phải ngẫu nhiên khi khen ngợi các tác phẩm của Cao đã đề cao “sự sống sót của cá nhân trước đám đông.”
Thứ ba, nếu như quả thực Linh sơn hợp mốt với sự mô hình của chủ nghĩa hậu hiện đại tại phương Tây, thì tại sao gần mười năm trôi qua nó hầu như không được biết tới tại Mỹ? Anh bạn tôi hiện đang dạy tại trường Cornell cho biết, nơi duy nhất có thể mua được bản tiếng Anh là tại một hiệu sách được chỉ định của Harper Collins Publisher Australia ở Úc. Ngay cả tại thư viện của trường Cornell cũng không có, và hiện họ đang vội vàng đặt hàng tại Úc. Người ta có lý do để tin rằng, Linh sơn (The Soul Mountain) không thể tìm được độc giả tại Mỹ, và do đó không vội vàng để khuyếch trương tác phẩm này trên thị trường. Giáo sư Trung văn Gregory Lee ở trường Jean Moulin-Lyon III đã hỏi một cách cay độc lý do tại sao các thành viên của Uỷ ban giải thưởng lại có thể khen ngợi Linh sơn về mặt ngôn ngữ- họ đã học tiếng Trung từ khi nào? Tất nhiên, chúng ta đủ thông minh để hiểu các thành viên của Uỷ ban chỉ có thể đọc Linh sơn từ bản tiếng Thuỵ Điển do Goran Mamqvist dịch, và câu hỏi của ông Lee có vẻ hơi nhỏ nhen. Nhưng ở đây cũng có một phần sự thật, Linh sơn được viết với chủ định- dù có thành công hay không- như một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn Trung Hoa. Những lời đồn đại rằng nó được viết theo phong cách hậu hiện đại chỉ để dành cho người đọc phương Tây (một số người đã đi xa hơn đến mức cho nó được viết ra cốt chỉ để cho Goeran Mamqvist giới thiệu với Uỷ ban Giải thưởng, những người đang khao khát trao giải này cho một nhà văn Trung hoa) là vô căn cứ. Ngay cả nhân vật chính trong tiểu thuyết này cũng khẳng định anh ta muốn viết theo truyền thống của thoải mái của tiểu thuyết chương hồi (xiaoshuo) Trung Quốc. Dù không thể phủ nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương của Cao Hành Kiện, nhất là trong Linh sơn, với việc đưa vào trong tác phẩm này những huyền thoại, những câu dân ca, những mẩu ghi chép và độc thoại, với những anh, tôi, cô ấy, anh ấy thay vì những nhân vật cụ thể, nhưng đó là một chủ nghĩa hậu hiện đại đã được “Cao hóa” (xin dùng thay cho Trung quốc hóa), khi một người đã yêu mến, tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh triết lý hiện đại của châu Âu và cuối cùng, được hòa hợp nó với căn nguyên Á đông của mình.
Gạt đi sự đố kỵ hẹp hòi, liệu chúng ta có thể rút ra được những bài học gì đối với văn học Việt nam từ giải Nobel dành cho Cao Hành Kiện?
Đầu tiên, việc trao giải thưởng cho Cao Hành Kiện gieo vào lòng chúng ta một mối hi vọng lớn lao. Tôi tin rằng, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ, Phạm Thị Hoài và một số nhà văn Việt nam khác hoàn toàn có chỗ đứng trong tủ sách chung của nhân loại, và nó không thua kém gì những tác phẩm đã được trao các giải thưởng quốc tế. Khoan chưa nói tới những giải thưởng như giải Nobel, nhưng đó là những thành tựu của văn chương Việt nam trong hai thập kỷ qua và chúng ta cần thiết phải giới thiệu với thế giới.
Sau nữa, đó là tầm quan trọng của việc đưa những tác phẩm có gía trị đến với những dịch giả có uy tín. Cái nhìn sai lệch của một số nhà văn cựu chiến binh Mỹ đối với văn học Việt nam khiến cho Hồ Anh Thái lại được biết tới ở Mỹ nhiều hơn những nhà văn đặc sắc khác của Việt nam, nhất là sau khi cuốn Trong sương hồng hiện rađược dịch ra tiếng Anh. Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, vốn không phải là một cuốn tiểu thuyết hay, cũng được Wayne Karlin giới thiệu và Curbstone Press chọn in. Chính sự hiểu biết lỗ mỗ như vậy về văn học hiện đại Việt nam đã nuôi dưỡng những ảo tưởng huyênh hoang kiểu Trần Đăng Khoa “các nhà văn Mỹ chỉ biết có Lê Lựu thôi, họ gọi ông Lựu là Hemingway của Việt nam”…vv và vv…
Trong số các nhà văn xuất sắc nhất của Việt nam hiện nay như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Vũ, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương thì ngay từ năm 1993, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đã được giải LiBeraturpreis-giải dành cho tác phẩm hay nhất trong năm của một nữ nhà văn không phải người châu Âu-tại hội chợ sách Frankfurt và được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Phần Lan và sắp tới là tiếng Hi Lạp. Mới đây, bản dịch truyện ngắn Thuế biển của Tôn Thất Quỳnh Du đã đoạt giải The Dinny O´Hearn/SBS Prize for Literary Translation của Victorian Premier´s Literary Awards.
Trần Vũ may mắn có Nina McPherson và Phan Huy Đường, những dịch giả tận tuỵ cách đây gần hai năm đã giới thiệu anh với độc giả Mỹ qua tập The Dragon Hunt-The Five Stories và được giới phê bình có uy tín đón nhận một cách thiện cảm. Francine Prose trên The New York Times Book Review coi Trần Vũ là một “nhà văn tài năng” khi chứng kiến “Marguerite Duras và Ernest Hemingway tranh giành quyền kiểm soát phong cách” của Trần Vũ. Kirkus Review coi đó có thể là “một trong những tuyển tập hay nhất mà chúng ta có từ Việt Nam”. Dẫu vậy, việc đưa Biển rợn san hô- một truyện ngắn không phải là xuất sắc của Vũ vào tập sách này, cũng như niềm say mê của Nina McPherson trong việc dịch các tác phẩm ít có giá trị văn chương của Dương Thu Hương như Thiên đường mù (Paradise of The Blind), Lưu Ly (Memories of a Pure Spring) khiến tôi thấy tiếc khi có cảm giác văn chương bị chính trị hóa.
Kim Leffevre, dịch giả tiếng Pháp của Nguyễn Huy Thiệp, hay Greg Lockhard, người chuyển ngữ nhiều truyện ngắn của anh sang tiếng Anh, đã cố gắng dịch các tác phẩm của Thiệp cũng với niềm tin “Nguyễn Huy Thiệp là một tác giả Việt nam có tài năng ngang tầm với các nhà văn xuất sắc thế giới”[6] và “tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là đóng góp cho văn học thế giới hiện đại”[7]. Sean Jamis Rose trên tờ Leberation cũng coi anh “chắc chắn là nhà văn Việt nam hiện đại lớn nhất”[8]. Sự say mê của họ đối với văn của Thiệp chưa đủ sức đưa các tác phẩm của anh tới với đông đảo độc giả phương Tây, (Nguyễn Huy Thiệp nói, sách của anh được các nhà xuất bản ở châu Âu và Mỹ in với số lượng rất ít, và bán cũng chậm) nhưng trường hợp Cao Hành Kiện cho thấy, văn chương có giá trị không phải bao giờ cũng là văn chương ăn khách. Báo Taipei Times cho biết cuốn Thánh Kinh của một con người (One Man’s Bible) của Cao Hành Kiện chỉ bán đượccả thảy có…hai trăm cuốn ở Đài Loan trong vòng mười năm. Ngay cả Linh sơn cũng chỉ bán được có 2500 bản cho lần xuất bản thứ nhất ở Thụy điển[9]. Không thể hoàn toàn dựa vào tiêu chí số bản sách bán ra để đo chất lượng sách, nhất là khi độc giả phương Tây vẫn thích tính exotic ở các tác phẩm của phương Đông hơn là thừa nhận một phương Đông tínhhiện đại trong sáng tác của các nhà văn lớn Việt nam. Thái độ khó ăn khó nói của các nhà nghiên cứu văn học Trung quốc phương Tây, những người trước đã cho các tác phẩm của Cao là “vớ vẩn” và ngừng đọc ông từ sau năm 1985 (xem bài của Bill Jenner trên tờ The Guardian sau khi ủy ban giải thưởng công bố giải), nay để chữa thẹn, dồng thanh cho việc trao giải cho Cao là một “hành động chính trị” cho thấy một điều, họ- phương Tây- vẫn muốn nhìn những tác phẩm của các nhà văn châu Á như tác phẩm của “những kẻ lạ” (stranger), chứ không phải như những người cùng thời.
Câu hỏi được đặt ra sẽ không phải là liệu chúng ta muốn trở thành những kẻ lạ hay muốn trở thành nhữngngười cùng thời, mà liệu chúng ta có đủ niềm tự tin để trở thành những người cùng thời hay không? Trong tiểu luận Original and Import, Kojin Karatani đã nói rất đúng rằng, hiện đại hóa là một quá trình, và mặc dù khởi phát từ phương Tây, nhưng hiện đại hoá không phải chỉ là sản phẩm của phương Tây. Đã đến lúc phương Tây không thể làm ngơ những đóng góp của phương Đông trong tiến trình hiện đại hoá, trong đó có hiện đại hoá văn chương. Các nhà lý luận phê bình hàng đầu của chúng ta đang thúc dục các nhà văn phải đổi mới văn chương. Nhưng những tư tưởng cấp tiến, những “hiện đại”, “hậu hiện đại” rồi “hậu hậu hiện đại” cứ bị bật tung lại khi vấp phải bức tường của mặc cảm vay mượn ý tưởng từ phương Tây. Mặc cảm này hạn chế những thử nghiệm quyết liệt hơn trong văn học, điều chúng ta đang rất cần.
Tình hình này làm tôi nhớ lại truyện ngắn viễn tưởng của nhà văn Mỹ Edmond Hamilton Những đứa con của Mặt trời (Children of the Sun). Có một chàng phi công vũ trụ, trong khi bị tai nạn tại phần tối của Sao Thuỷ đã tiếp xúc bằng trí não với một dạng tiến hoá khác của vũ trụ mà anh đặt tên là “những đứa con của các vì sao”. Sự hơn hẳn của trí tuệ dưới dạng năng lượng chứ không phải vật chất khiến anh ta tuyệt vọng, vì biết rằng sự tiến hoá của loài người còn lâu mới cho phép chúng ta đạt được mức phát triển cao như vậy, và con người “vĩnh viễn sẽ là thứ phẩm của vũ trụ.” Anh ta trốn trở lại nhà, u buồn, đau khổ, và chỉ vì ép buộc mới quay lại phần sáng của sao Thuỷ, nơi duy nhất có khả năng tiếp xúc với những sinh vật dạng năng lượng kia- lần này cùng với cấp trên của anh ta, người nghi ngờ anh ta đã khám phá ra một bí mật nào đó và định che dấu. Và cấp trên của anh ta, người không để sự tuyệt vọng phá huỷ cuộc sống, không sợ phát hiện của mình sẽ giết chết cảm hứng lao động và sáng tạo của con người, đã quyết định không che dấu chủng tộc mình sự thật đó:
” Không, Kellard ạ, chúng ta chỉ đơn giản đã mắc sai lầm. Nay chúng ta đã biết chúng ta không phải là những sinh vật có trí tuệ duy nhất trong vũ trụ. Hãy thu nhận thực tế ấy vào sự hiểu biết của chúng ta và tiến xa hơn. Bởi vì dẫu sao chúng ta cũng là những đứa con của mặt trời! Những hành tinh dù sao đi nữa cũng là của chúng ta! Và một khi nào đó, một lúc nào đó, những đứa con của các vì sao, những đứa con của mặt trời, của các hành tinh sẽ gặp nhau, và chúng ta sẽ có cái gì đó để trao đổi. Không, chúng ta sẽ nói cho mọi người biết”[10]
Những thứ chúng ta có thể trao đổi với phương Tây, với quá trình “hậu hiện đại” hóa văn chương hẳn không nhiều, nhưng không phải là không có gì. Nhưng những thứ thực sự độc đáo, theo tôi, vẫn là những tác phẩm có thể tạo được sự gặp gỡ của cả hai nền văn hóa, khi mỗi nền văn hóa lại thấy mình khác lạ trong cái nhìn của nền văn hóa kia. Chính sự “nhìn lại mình” từ đôi mắt của người khác, chính sự vượt thoát khỏi cái tôi để nhìn lại cái tôi chính là thứ đã làm nên cho thành công cho các tác phẩm của Cao Hành Kiện.
Quá trình “nhìn lại mình” cũng sẽ giúp chúng ta vượt thoát khỏi những ảo tưởng. Theo Cao Hành Kiện, ảo tưởng lớn nhất của những nhà văn Trung Quốc- và ở đây họ rất gần gũi với các nhà văn Việt Nam-đó là luôn luôn coi mình có nghĩa vụ phải có tiếng nói đại diện: đại diện cho dân tộc, cho chính nghĩa, cho lẽ phải, cho một giai cấp…vv. Văn học, thực ra, trước tiên là tiếng nói của một cá nhân. “Nhà văn cũng chỉ là một con người bình thường, có thể anh ta nhạy cảm hơn một số người khác, nhưng chính vì thế mà cũng yếu đuối hơn. Nhà văn không phải là người phát ngôn cho mọi người, cũng như không đại diện cho lẽ phải. Giọng của anh ta có thể yếu ớt, nhưng chính đó mới là giọng thực của một con người”[11]. Đảm bảo được cho tác phẩm của mình có được tiếng nói riêng, chân thực của cá nhân có lẽ là thử thách lớn nhất đối với các nhà văn Việt nam hiện nay, đảm bảo cho những giọng nói yếu ớt đó được lắng nghe, có lẽ là thử thách và trách nhiệm lớn nhất của những người có tâm huyết với nền văn học Việt Nam hiện nay.
Hà Nội 12.12.2000
(trích từ tập Phê Bình Văn Học Của Tôi – nhà xuất bản Trẻ 2002)
[1] Mượn cách nói của Phạm Xuân Nguyên[2] Để phản bác những lời đồn đại cho rằng, Gao Xingjian (Cao Hành Kiện) đã “viết Linh Sơn dưới một dạng cho phép Goeran Malmqvist không cần thiết phải đọc toàn bộ bản thảo”, Liu Zaifu, một nhà văn Trung quốc nổi tiếng khác, đã kể về câu chuyện này như sau trên Hua Xia Wendzai (ghi theo lời dịch của Kirk Denton) “Gao Xingjian là một nhà văn/nhà viết kịch nữa mà ông ta (Goeran Malmqvist) ưa thích. Ông ta đã xem và thích các vở kịch của Gao trước. Năm 1988, khi lần đầu tiên tôi tới Thuỵ điển, ông ta nói với tôi rằng ông ta nghĩ tất cả các vở kịch của Gao đều hay. Khi đó ông ta có cho tôi xem một tập bản thảo và nói đó là bản thảo cuốn tiểu thuyết mới hoàn thành của Gao, hơn 40 ngàn chữ, và do nó là bản thảo viết tay (shou xie) nên ông ta đọc nó rất vất vả. Vì tôi cũng thích kịch và các tác phẩm khác của Gao, tôi có nói với ông ta tôi sẽ mang lại Trung quốc, thuê người đánh máy (dayin) và gửi lại cho ông ta đọc. Và thế là tôi đã đem Linh sơn về Bắc Kinh, thuê người đánh máy, sau đó nhờ Tuỳ viên văn hoá ĐSQ Thuỵ điển chuyển cho ông ta. Khi Goran Malmqvist nhận được, ông ta lập tức dịch ra tiếng Thuỵ điển. Đó là lý do tại sao bản dịch tiếng Thuỵ điển lại có trước bản in tiếng Trung”.
[3] Dẫn theo “Walking out of other people’s prison- Liu Zaifu and Gao Xingjian on Chinese literature in 1990s” by Mabel Lee, Asian and African Studies-5,1996, 1, p.98-112
[4] Without Politics, Gao Xingjian on Literature Creation by Mabel Lee-Stockholm Journal of East Asian Studies 6[1995]: 82-101
[5] The Voice of Individual- Ge ri huanghua-p.79
[6] Tại sao tôi dịch Nguyễn Huy Thiệp-Greg Lockhard-Tạp chí Văn học số 4,7-8-1989
[7] Tại sao tôi dịch Nguyễn Huy Thiệp- đã dẫn
[8] Liberation-18/5/2000
[9] Tommy Grandel. Tin AP ngày 26.10.2000
[10] Dịch theo bản tiếng Nga trong tập ” Zvuotznuie karoli”- Edmond Hamilton-NXB Start 1990 tr. 169-178
[11] Gao Xingjian- The Case for Literature- Diễn từ nhận giải Nobel- Mabel Lee dịch sang tiếng Anh