Phê bình văn học của tôi
1-
Không có âm thanh nào lại xóa đi những ước lệ về thời gian bằng những âm thanh của biển. Nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng rì rào của sóng vỗ, của cảm giác buồn mênh mông trước cái vô hạn của biển, tưởng như cả Trái đất đang trở lại với lứa tuổi còn nằm nôi, chỉ có cảm giác yên bình của một nỗi buồn êm đềm.
Tôi nhớ lại bức tranh Con quỉ ngồi của Vrubel. Nhớ lại vẻ mặt buồn và cô độc của người khổng lồ trên đỉnh núi, tay buông thõng và chìm đắm trong suy tưởng. Trong suy tư, con người đó đang cố gắng thoát khỏi xác thịt của mình, hòa vào không gian và thời gian đang đặc sánh xung quanh, để thoát khỏi nỗi cô đơn vĩnh viễn đang đè nặng trĩu trong tim.
Người ta thường hình dung về nhà phê bình như một ông già đeo kính, loay hoay viết chú giải cho những cuốn sách- còn tôi, tôi sẽ hình dung về người viết phê bình như một con người thường xuyên ngồi suy ngẫm.
Suy ngẫm trước hết tại sao anh muốn viết phê bình? Tại sao mọi người gọi anh là nhà phê bình văn học? Nếu cứ tin theo các định nghĩa gần đây, người viết phê bình văn học hẳn là một “động vật lai”: một phần là người bạn tâm giao, một phần là người thầy, một phần là bác sĩ tâm lý trị liệu cho nhà văn. Một thứ “u già” có trách nhiệm chia sẻ, định hướng, khen ngợi, khuyên bảo…Nhà phê bình nói một cách quả quyết: tôi hiểu cuốn sách này, tôi biết nó nói gì, và tôi muốn hướng dẫn cho độc giả cùng hiểu nó. Nhà phê bình nói một cách cao ngạo: tôi hiểu cuốn sách này còn hơn tác giả của nó, tôi biết tại sao anh ta viết thế này, tôi biết cả những gì ở phía sau những dòng chữ của tác giả, tôi có thể giải mã cho những ám ảnh của tác giả trong cuốn sách của chính anh ta. Nhưng ít ai tin rằng, nguyên do của công việc viết phê bình đôi khi thật đơn giản: tôi viết phê bình vì tôi yêu những cuốn sách và tôi yêu thích công việc viết về chúng.
Suy ngẫm về mối quan hệ của nhà phê bình với tác giả. Phải chăng chỉ có tác giả là Người Sáng Tạo, còn nhà phê bình là người mô phỏng và diễn dịch, làm “sang giá và sáng giá” tạo phẩm đó? Nhưng con đường từ suy đoán đến võ đoán chỉ cách nhau một sợi chỉ mỏng manh. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn Việt Nam hay coi thường các nhà phê bình. Sợ hãi không dám trình bày những suy tư cá nhân, nhiều nhà phê bình thường gán ghép những ý nghĩ của họ vào tác phẩm mà họ nghiên cứu, lén lút vứt đứa con sơ sinh của mình lên bậc thềm nhà khác. Những nhà văn cười cợt những ý tưởng cao siêu mà người ta áp đặt cho họ, cho tác phẩm của họ – đứa con hoang hiếm khi được những bàn tay ân cần đưa vào trong nhà!
Nhiều nhà văn hăng hái giải thích cho những nhà phê bình, rằng chỉ có họ mới là Người Sáng Tạo đích thực, và nhà phê bình-những kẻ ăn theo-sẽ không bao giờ có thể hiểu nổi những giây phút “thần hứng”, những lý do sâu thẳm khiến họ sáng tạo nên tạo phẩm của họ. Mối quan hệ của các nhà văn với tác phẩm của họ cũng giống như mối quan hệ của bố mẹ với con cái: rất ít người chịu chấp nhận ý nghĩ là một khi chúng ra đời, cho dù chúng có là một phần máu thịt của họ, chúng cũng không còn hoàn toàn là của họ nữa, và chúng có số phận độc lập của chúng. Họ không hiểu rằng, nhà phê bình ít khi quan tâm đến những giây phút thần hứng ấy của họ. Là những kẻ ích kỷ, nhà phê bình đang mải chăm lo cho những giây phút thần hứng của mình.
Họ không biết rằng, nhà phê bình có thể đến nhà uống trà đọc báo, nói chuyện thời tiết hay khai lý lịch với ông bố bà mẹ của các tác phẩm, nhưng tình yêu của nhà phê bình là dành cho con cái của họ cơ.
Tình yêu của nhà phê bình đối với tác phẩm của người khác là một thứ tình cảm đặc biệt: tình cảm dành cho chất liệu của sự sáng tạo. Nhà phê bình cũng là Người Sáng Tạo, nhưng chất liệu tác phẩm của anh ta lại chính là những tác phẩm của những nhà sáng tạo khác. Nếu anh ta chỉ muốn viết ra những gì Người Sáng Tạo trước muốn nói, tác phẩm của anh ta sẽ chỉ là một trang giấy trắng rỗng không. Nếu coi tạo vật của nhà sáng tạo là cái đích cuối cùng của bài phê bình, thì thực ra còn có gì có thể nói hay hơn về một tác phẩm bằng chính tác phẩm đó nữa? Không, tác phẩm của các nhà văn, đối với nhà phê bình, chỉ tạo nên nền đất, những suy tư của anh ta sẽ khởi động những suy tư của chính nhà phê bình, thành gốc rễ, thành cành lá của một tạo vật mới, tạo vật riêng của nhà phê bình. Tác phẩm của nhà văn chỉ là đối tượng cho tình yêu của nhà phê bình. Cái trân quí thực sự với nhà phê bình chính là tình yêu của anh ta, chứ không phải là đối tượng của tình yêu ấy.
Dường như không gì làm nhà phê bình khó chịu và bất lực bằng một tác phẩm dở, bởi vì người ta có thể giải thích tại sao nó dở, nhưng câu chuyện chỉ đến đó là hết. Anh ta không sao rút ra được cái gì đó cho mình, dường như không một tư tưởng nào, một hình ảnh nào có thể khả dĩ làm nền cho sáng tạo của nhà phê bình vươn lên. Một tác phẩm dở là một nền đất sa mạc.
Nhưng ngay ở trong sa mạc cũng có những ốc đảo, hoặc chí ít những loài xương rồng kỳ thú có thể sinh sôi? Những tác phẩm dở cũng vậy, bởi trong khi đi tìm nguyên nhân cho sự thất bại của nó, một nhà phê bình tài năng cũng có thể tạo nên một tác phẩm tuyệt diệu của chính anh ta. Một lần nữa, sáng tạo của người đi trước chỉ còn là chất liệu cho sáng tạo của người đến sau.
Và, bởi nó biết chắt lọc những gì tinh túy nhất từ lòng đất cứng rắn, ngay cả những vùng đất cằn vẫn có những cây cổ thụ.